Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Thị Hải Yến)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Liên kết


    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ ĐẾN VỚI THƯ VIỆN HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ !

    Chào mừng quý vị đến với THƯ VIỆN HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ của trường Tiểu học Tân Mai

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    On truyen thong 22-12-09

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Cao Bao Tram
    Ngày gửi: 22h:16' 19-12-2009
    Dung lượng: 69.5 KB
    Số lượt tải: 89
    Số lượt thích: 0 người
    Quốc phòng toàn dân - Sức mạnh giành thắng lợi
    Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12) là ngày hội biểu dương sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và tinh thần thượng võ của dân tộc để bảo vệ đất nước.
    Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - đơn vị đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (12-1944).
    Ngày 22-12-1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo (xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập dưới sự lãnh đạo của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Ngày 22-12-1989 theo nguyện vọng của toàn dân, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam chính thức trở thành ngày hội Quốc phòng toàn dân.
    Ngay từ ngày đầu thành lập, quân đội đã được Bác Hồ phác họa bao gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực; bộ đội địa phương và dân quân du kích (dân quân tự vệ). Quân đội nhân dân với ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đánh giắc bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân, bằng thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển cao với hai phương thức tiến hành chiến tranh: chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính qui.
    Tiến lên chính qui hiện đại là tiến tới xây dựng lực lượng và trang bị phương tiện phù hợp với điều kiện hiện đại, đồng thời phải có cách đánh hiện đại. Trong đó cách đánh được nổi lên là yếu tố vô cùng quan trọng.
    Dân tộc Việt Nam đã đánh thắng nhiều kẻ thù hung bạo lớn mạnh hơn mình bằng cách đánh của riêng mình, cách đánh bằng trí tuệ với sức mạnh bền bỉ của toàn dân. Đó là cách đánh mưu lược, "lấy chí nhân thay cường bạo", "dĩ đoản chế trường", "lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, "lấy thế thắng lực", "đánh bằng mưu kế - thắng bằng thế thời", "dĩ bất biến, ứng vạn biến" - vì độc lập tự do của đất nước. Đó cũng chính là truyền thống về tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam. 
    
    
    
    Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, Giải phóng quân, cứu quốc quân và du kích quân mới chỉ có khoảng mấy ngàn người, song cũng đã đi đầu trong phong trào cách mạng về quân sự và là chỗ dựa tinh thần để quần chúng đứng lên giành lấy chính quyền làm nên lịch sử, bước khởi đầu của chiến tranh nhân dân.
    Trong kháng chiến chống Pháp, Vệ quốc quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, "cả nước dồn sức lại mà đánh", "mỗi công dân là một chiến sỹ, mỗi làng là một pháo đài" vừa kháng chiến vừa kiến quốc, thực hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện.
    Sau năm 1950, quân đội ta tuy số lượng không nhiều nhưng lúc đó đã hình thành ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Những lực lượng ấy ít nhiều bắt đầu có những hình thức tác chiến khác nhau ở qui mô chiến thuật. Khi bộ đội chủ lực ra đời, quân đội ta dần dần làm quen với chiến thuật mới, như đánh vận động, đánh công kiên.
    Trong Đông-Xuân 1953-1954, một loạt chiến dịch vừa đan xen vừa gối đầu đã tạo nên thời cơ chiến lược cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Do tương quan lực lượng còn nghiêng về phía địch cả về số lượng và trang bị vũ khí, nên việc sử dụng cách đánh bán chính qui của bộ đội địa phương và dân quân du kích trên khắp các chiến trường đã phát huy hiệu quả rõ rệt. Nhờ đó thực hiện được mục tiêu chiến lược là tiêu hao, kìm chân phân tán lực lượng chủ lực cơ động chiến lược của địch trên khắp các chiến trường Đông Dương, để bộ đội chủ lực ở chiến trường Điện Biên Phủ có điều kiện tập trung sức mạnh tiêu diệt địch giành thắng lợi.
    Bước sang thời kỳ chống Mỹ, đối tượng tác chiến thay đổi. Chủ nghĩa thực dân mới với các loại hình chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh, qui mô chiến tranh, điều kiện chiến tranh cũng luôn thay đổi.
    Trên cơ sở xác định rõ đối tượng, chỉ ra bản chất của cuộc chiến tranh, thế bố trí chiến lược của địch, quân đội Việt Nam đã thay đổi cách đánh cho phù hợp, thích nghi với đặc điểm chiến trường, dân cư, chính trị - xã hội. Từ đó tổ chức các đơn vị ở các cấp để tác chiến có hiệu quả nhằm thực hiện tư tưởng chiến lược là "đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận tiến tới đánh đổ hoàn toàn quân địch". Tư tưởng ấy được quán triệt trong suốt quá trình chiến tranh.
    Tuy nhiên, cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1968 đã để lại bài học sâu sắc trên cả hai khía
     
    Gửi ý kiến

    Em làm toán lớp 1